This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Ðể cúm A/H1N1 không bùng phát

Hiện nay, tại 1 vài địa phương có nguy cơ có hiện tượng cúm A/H1N1. Cúm A/H1N1 là bệnh lây từ người sang người qua đường hô hấp và rất dễ bùng phát thành dịch. Là bệnh viêm hô hấp cấp tính, rất nguy hiểm khi có biến chứng. Tuy vậy, nếu tích cực và có biện pháp bộ phận bệnh đúng thì có thể ngăn chặn được chúng.

Cúm A/H1N1 lây nhiễm như thế nào?

Virut cúm thuộc họ Orthomyxoviridae, chi influenzae. Người ta dựa vào cấu trúc của nucleoprotein mà chia virut cúm thành 3 loại: A, B, C. Cúm A thiết yếu nhất vì nó có khả năng gây bệnh cho người và động vật. Virut cúm A có khả năng đột biến mạnh, bởi thế gây không ít khó khăn cho việc sản xuất vaccin để phòng bệnh do chúng gây ra. Người ta cũng có khả năng phân loại virut cúm A bằng cách xác định kháng nguyên glycoprotein trên bề mặt của virut (kháng nguyên bề mặt). Các kháng nguyên bề mặt có thể chia thành hai nhóm chính là hemagglutinine (HA) và neuraminidas (NA). Có toàn bộ 14 HA được đánh số từ H1 đến H14 và có 9 NA được đánh số từ N1 tới N9. Virut cúm A có sự kết hợp giữa H1 và N1 để cho ra 1 nhóm phụ là cúm A/H1N1. Khác với các virut cúm theo mùa thông thường, cúm A/H1N1 cho thấy khả năng tấn công sâu về các tế bào của tổ chức phổi, nơi nó gây ra chứng viêm phổi và thậm chí dẫn đến tử vong. Trái lại, virut cúm theo mùa thường chỉ tấn công các tế bào thuộc phần trên của hệ hô hấp. Virut cúm A/H1N1 sao chép nhanh hơn nhiều trong hệ hô hấp so với virut cúm theo mùa và gây ra những thương tổn nghiêm trọng cho phổi.

Ðể cúm A/H1N1 không bùng phát 1Đeo khẩu trang bộ phận ngừa cúm A/H1N1.

Người mang virut cúm A/H1N1 có khả năng truyền virut cho những người xung quanh chỉ mất khoảng từ 1 - 7 ngày sau, diễn ra từ lúc có triệu chứng của bệnh. Bệnh lây lan càng mạnh, càng nhanh lúc có sự tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, nhất là tại nơi tập trung đông người như trường học, nhà trẻ, chợ, nơi công cộng. Tuy chưa có vaccin bộ phận bệnh đặc hiệu, nhưng những loại thuốc kháng virut đã được dùng là hàng rào bảo vệ hiệu quả và làm chậm sự lây lan của dịch bệnh trong cộng đồng. Vì vậy, chúng ta không nên quá lo lắng nhưng không được chủ quan và phải tích cực phòng, chống.

Phát hiện bệnh cúm A/H1N1 dễ hay khó?

Không phải hiện nay mới có dịch cúm A/H1N1 mà đã có từ năm 1918 và gây chết hàng loạt người tại châu Âu. Người ta ước tính có khoảng 1/5 dân số toàn cầu bị lây nhiễm loại cúm có độc tính cao này. Tại Việt Nam, ca bệnh cúm A/H1N1 trước tiên xâm nhập Việt Nam từ ngày 31/5/2009. Đến ngày 30/7/2009 có gần 800 trường hợp mắc tại sắp 30 tỉnh, thành phố trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, nhưng không có người tử vong. Cúm thông thường có thể gây tử vong cho người già và trẻ em, trong lúc đó cúm A/H1N1 gây tử vong cho lứa tuổi từ 20 - 40, chiếm tỷ lệ cao nhất. Các triệu chứng của bệnh cúm A/H1N1 cũng như vậy như triệu chứng của cúm thông thường, sốt cao có khi nhiệt độ cơ thể lên tới 39 - 40oC; đau đầu, đau mỏi cơ, ho khan, sổ mũi và đau họng. Một số trường hợp có kèm theo nôn hoặc buồn nôn nhưng những triệu chứng này không phải là những triệu chứng đặc hiệu cho cúm A/H1N1. Các triệu chứng của cúm A/H1N1 rất dễ nhầm lẫn với các triệu chứng của cúm thông thường và cũng rất dễ nhầm lẫn với các triệu chứng của viêm đường hô hấp trên do vi khuẩn hoặc do các loại virut khác. Trong trường hợp nặng sẽ khó thở dữ dội, suy hô hấp, nếu không cấp cứu kịp thời, tính mạng của người bệnh có thể bị đe dọa.

Cách bộ phận ngừa hiệu quả

Đối với người bị bệnh cúm A/H1N1, lúc đã được cơ quan y tế xác nhận cần phải cách ly để không tiếp xúc với người lành nhằm giữ 1 khoảng cách nhất định, tránh không cho virut lây lan. Ngay từ trong gia đình người bệnh, cả người bệnh và người lành cần đeo khẩu trang y tế để giảm thiểu bài xuất virut ra xung quanh từ người bệnh và hạn chế người nhiễm phải mầm bệnh. Với người bị bệnh, không đến chỗ đông người và không giao lưu rộng rãi với người lành. Cần vệ sinh sạch sẽ các dụng cụ, đồ dùng của người bệnh như chăn màn, quần áo, điện thoại, giường, chiếu bằng các dung dịch sát khuẩn pha loãng (dung dịch cloramin B). Bất kỳ 1 người nào ví dụ thấy sốt cao, ho, sổ mũi, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, đặc biệt trong gia đình có người bị bệnh cúm A/H1N1 hoặc đi về từ nơi có dịch cúm A/H1N1 nên nghỉ việc, đeo khẩu trang và cần đến địa chỉ y tế để khám bệnh, không chủ quan với bệnh cúm.

PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu

 Virut cúm A/H1N1 tồn tại khá lâu ngoài môi trường, có thể sống từ 24 - 48 giờ trên các bề mặt như bàn, ghế, tủ, tay vịn cầu thang và có khả năng tồn ở trong chăn màn, quần áo, đồ sử dụng sinh hoạt của người bệnh từ 8 - 12 giờ và duy trì được 5 phút trong lòng bàn tay. Vì vậy, bệnh cúm A/H1N1 lây truyền từ người sang người theo hai hình thức, lây trực tiếp và lây gián tiếp. Lây trực tiếp là lây do người bệnh khi nói, ho bắn ra các giọt nước bọt nhỏ li ti trong đó có mang virut cúm A/H1N1. Khi người tiếp xúc (người nhà, người khám bệnh cho bệnh nhân, người chăm sóc người bệnh...) hít phải và mắc bệnh. Lây gián tiếp là lây rất đa dạng, ví dụ như người lành hít phải không khí mà trong đó có virut cúm A/H1N1 hoặc tay của người lành tiếp xúc với dụng cụ, đồ dùng của người bệnh rồi đưa lên miệng, lên mũi, qua đó người lành bị lây nhiễm virut cúm A/H1N1. Cúm A/H1N1 dễ lây lan đặc biệt trong vòng 5 ngày đầu của thời kỳ toàn phát của bệnh.


Những phương thuốc sai lầm... chết người

Thuốc được hiểu là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm bộ phận bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể. Nhưng 10 loại thuốc dưới đây không những không chữa được bệnh mà còn gây thêm bệnh.

Sáp paraffin căng da và nâng ngực

Ngày nay, các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ thường dùng botox và collagen để xóa nếp nhăn và trẻ hóa khuôn mặt, song song sử dụng silicon để nâng ngực giúp chị em phụ nữ có vòng 1 đầy đặn, cân đối và thẩm mỹ. Nhưng lịch sử phẫu thuật thẩm mỹ đã có từ trước những năm 1900. Lúc này, để làm căng da, xóa nếp nhăn, các bác sĩ đã tiêm sáp paraffin vào khu vực nhiều nếp nhăn và trong phương pháp nâng ngực cũng sử dụng paraffin bơm trực tiếp vào vòng một để tăng kích cỡ. Kết quả, hàng loạt bệnh nhân nữ sau lúc sử dụng phương pháp này bị nhiễm khuẩn, ở những vùng da mặt tiêm paraffin hình thành u, cục gây đau đớn. Với những cố gắng phát triển vòng 1, việc tiêm paraffin khiến ngực của chị em phát triển thành cứng đờ, méo mó và kém hấp dẫn hơn nhiều so với trước lúc phẫu thuật thẩm mỹ. Ngày nay, sáp paraffin thường được sử dụng để làm đẹp cho chị em phụ nữ nhưng không phải căng da và nâng ngực mà sử dụng để tẩy lông.

Những phương thuốc sai lầm... chết người 1 Tiêm paraffin về ngực có thể làm ngực nổi u, cục.

Hồng phiến và LSD điều trị bệnh nhân tâm thần

Hồng phiến và LSD được tổng hợp năm 1912 với tên khoa học là 3,4-methylen dioxymentamphetamin (MDMA). Vào khoảng những năm 1950 - 1960, MDMA được 1 số bác sĩ chuyên khoa tâm thần Hoa Kỳ cho dùng như 1 phương pháp điều trị hỗ trợ liệu pháp tâm lý đối với 40.000 bệnh nhân.

Nhưng kết quả lại đi ngược lại những gì các nhà nghiên cứu hy vọng, loại thuốc này gây ra những cơn hoảng sợ hay cảm giác lo lắng cực độ. Vì vậy, những bệnh nhân mắc chứng tâm thần phân liệt hay trầm cảm càng rơi về trạng thái trầm trọng hơn. Đối với những người không mắc bệnh tâm thần, hồng phiến và LSD cũng gây ảo giác, rối loạn. Do đó, đến năm 1970, Đạo luật kiểm soát chất đã ra lệnh cấm không được sử dụng hồng phiến và LSD về việc điều trị cho người bệnh tâm thần.

Nước nhiễm phóng xạ chữa bách bệnh

Vào năm 1913, các nhà sản xuất thuốc đã có chương trình quảng cáo rất to về tác dụng của loại nước thần kỳ này. Quảng cáo về công dụng của nước nhiễm phóng xạ hay còn gọi là nước radium cho thấy nó có khả năng chữa được bách bệnh từ viêm khớp đến tăng huyết áp hay mụn trứng cá. Thật không may cho những người tin và sử dụng loại nước này. Vì các nhà sản xuất không chú thích về tác dụng phụ của nó như: ung thư, rụng tóc, hỏng răng và bào mòn xương, toàn thân ê ẩm (đây là những triệu chứng của người bị nhiễm độc phóng xạ).

Asen chữa sốt rét, giang mai, làm đẹp

Asen hay còn gọi là thạch tín có tính độc và hiểm nguy với môi trường, nhưng trong nhiều thế kỷ trước đây, nó đã được dùng như một loại thuốc. Asen cũng là 1 thành phần thiết yếu trong nhiều loại thuốc được cấp bằng sáng chế, bao gồm cả sáng chế vào chữa bệnh sốt rét và giang mai, được dùng từ cuối thế kỷ 18 tới những năm 1950. Một sáng chế nữa có chứa thành phần asen đã được cấp bằng đó là của Donovan, sử dụng để điều trị viêm khớp, đái tháo đường. Những người phụ nữ sống dưới thời Victoria cũng liên tục dùng thạch tín như 1 loại mỹ phẩm để làm đẹp.

Dùng chất thải để tránh thai

Thời Ai Cập cổ đại, biện pháp tránh thai phổ biến là dùng phân cá sấu khô. Phân khô được đưa về âm đạo vì mọi người cho rằng nhiệt độ trong cơ thể sẽ làm phân mềm ra và tạo thành rào cản, tinh trùng không thể vượt qua. Do đó, khó có thể mang thai. Phân được dùng về phần nhiều mục đích y tế khác. Ngoài Ai Cập, châu Phi cổ đại cũng sử dụng phân voi để làm biện pháp tránh thai. Vào thế kỷ 17, ở Anh, các bác sĩ khuyên người bệnh nên sử dụng phân gà để chữa bệnh hói đầu. Tại Ấn Độ, mỹ phẩm và thuốc tẩm phân bò được dùng như phương pháp hữu hiệu để chữa trị toàn bộ các loại bệnh. Một công thức chế từ phân nữa đó là để giảm đau họng, người ta trộn một hỗn hợp bao gồm các graecum (phân chó sấy khô), công thức này được ghi trong cuốn “Các công thức y học phổ biến, 1650 - 1850”. Thực tế, việc dùng phân làm thuốc gia tăng nguy cơ nhiễm khuẩn rất lớn. Không biết hiệu quả sử dụng những loại “thuốc” này đến đâu nhưng việc mắc thêm các căn bệnh khác là điều không tránh khỏi. Ngày nay, ô nhiễm nguồn nước bởi phân tại các nước đang phát triển ước tính làm tử vong 1,8 triệu ca mỗi năm.

Thủy ngân làm thuốc trường sinh

Thời xưa, thủy ngân là phương thuốc nổi tiếng chữa các bệnh: giang mai, khó tiêu và gần như bệnh khác. Rất nhiều người nổi tiếng thời cổ đã dùng liệu pháp này: Tần Thủy Hoàng, người luôn coi thủy ngân là phương thuốc mang lại sự bất tử. Ngay cả Abraham Lincoln cũng từng có thói quen sử dụng thuốc có thành phần thủy ngân. Các nhà khoa học ngày nay cho biết, lúc thủy ngân tích tụ trong máu tới 1 mức độ nhất định, các độc tố của thủy ngân có thể gây tê liệt, mất trí, mất kiểm soát hành vi, lở loét, thần kinh tổn thương và cuối cùng là tử vong. Vì vậy, nó hoàn toàn không phải là thần dược giúp trường sinh hay trẻ hóa như mọi người đã từng tin.

Sán dây giúp giảm cân

Trong thế kỷ 19, việc ăn kiêng đã phát triển thành chỉ tiêu buôn bán lớn. Các chương trình quảng cáo thi nhau khuếch trương nhiều loại thuốc giúp quy trình ăn kiêng hiệu quả và thần tốc. Trong những năm 1900, chính sách ăn sán dây Tiến hành bùng nổ. Người ăn kiêng sẽ bổ sung sản phẩm có sán dây. Lý thuyết thời đó cho rằng, sán dây sẽ phát triển trong hệ đường ruột và tiêu thụ hết thức ăn, khiến ruột không hấp thu được nhiều dinh dưỡng. Điều này sẽ giúp giảm cân nhanh chóng nhưng đi kèm với đó là hiện tượng nôn mửa, tiêu chảy.  Khi đạt được trọng lượng mong muốn, người đó sẽ uống một liều thuốc tẩy ký sinh trùng sán dây, họ tin rằng như vậy sẽ tiêu diệt toàn bộ sán dây trong hệ đường ruột của mình. Nhưng phương pháp này chứa đựng phần lớn rủi ro. Các nhà PR không cảnh báo cho họ biết rằng, sán dây có thể phát triển dài đến 9m và cũng có thể gây ra các bệnh: đau đầu, các vấn đề vào mắt, viêm màng não, động kinh và mất trí nhớ.

Trinh nữ chữa bệnh STD

Có 1 quan niệm đáng lo ngại nhưng phổ biến trước đây cho rằng nếu như một người bị nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) thì bằng cách quan hệ với trinh nữ sẽ hoàn toàn khỏi bệnh. Từ thế kỷ 16, khi trường hợp trước nhất mắc bệnh giang mai và bệnh lậu ở châu u, quan niệm này bắt đầu được hình thành và nhanh chóng lan truyền sang 1 số vùng của châu Phi. Có thể khẳng định rằng, quan niệm này hoàn toàn sai lầm. Việc không chữa trị bệnh tận gốc và dùng phương pháp quan hệ với trinh nữ càng làm cho STD phát triển ở mức báo động.

Bột xác ướp chữa bách bệnh

Thời Trung cổ tại châu u và Trung Đông, xác ướp được nghiền thành bột và sử dụng làm thuốc. Mọi người quan niệm loại “thuốc bột xác ướp” này chữa được bách bệnh: từ đau đầu, ho, viêm loét dạ dày, thậm chí còn được sử dụng để giải độc đối với các trường hợp ngộ độc. Đến thế kỷ 17, bác sĩ phẫu thuật người Pháp, Ambrose Pere đã tuyên bố bố kết luận: loại “thuốc” này không những không tốt mà nó còn là nguyên nhân gây đau dạ dày, hơi thở có mùi hôi, thậm chí gây nôn mửa nghiêm trọng. Đó còn chưa kể đến những vi khuẩn gây bệnh tiềm tàng trong xác ướp.

  Minh Huệ

     (Theo LSV, 7/2013)

La hét trong khi sinh con sẽ bị phạt tiền

Theo báo cáo của Tổ chức Minh bạch quốc tế, 1 bệnh viện ở Zimbabwe đã ra quy định phạt những phụ nữ sinh con ở đây 5USD (trên 100.000VNĐ) nếu họ la hét khi rặn đẻ. Nếu không có tiền nộp phạt, sản phụ sẽ bị giữ lại bệnh viện và bị tính tiền cho đến khi gia đình họ trả hết khoản tiền này.

So với thu nhập trung bình hàng tháng của người dân (khoảng 150USD) thì giá thành sinh đẻ ở bệnh viện này không hề rẻ, khoảng 50USD mỗi lần sinh.

Sau khi phát hiện khoản phạt của bệnh viện, Tổ chức Minh bạch quốc tế cho biết, đã liên lạc với 1 trong 2 Phó Thủ tướng của Zimbabwe báo cáo sự việc, sau đó cuộc điều tra được tiến hành.

Nguồn tin từ các cơ quan điều tra, khoảng 95% dân số Zimbabwe hiện đang thất nghiệp, nhiều phụ nữ không có khả năng trả viện phí đã buộc phải sinh con tại nhà. Theo số liệu của Liên Hiệp quốc, mỗi ngày Zimbabwe có 8 bà mẹ chết khi sinh con và một cuộc điều tra y tế mới nhất ở đây còn cho biết, cứ 100.000 ca sinh con ở Zimbabwe thì có 960 trường hợp tử vong, cao gấp 3 lần so với trung bình toàn cầu.

Thu Kim  (Theo Reuters, 7/2013)

 

Thai phụ thiếu ngủ sẽ sinh con ít cân

Nhà khoa học Michele Okun và các đồng nghiệp tại Trường Y thuộc Trường đại học Pittsburgh (Mỹ) tiến hành nghiên cứu đã ghi nhận và phân tích chất lượng giấc ngủ cũng như sự sản xuất cytokine của thai phụ. Các cytokine là các protein hoặc glycoprotein điều hòa có trọng lượng phân tử thấp được chế tiết bởi các tế bào bạch cầu và nhiều loại tế bào khác trong cơ thể đáp ứng với 1 số kích thích, giúp cơ thể chống lại viêm nhiễm. Thế nhưng, ví dụ cơ thể bị dư thừa cytokine sẽ ngăn cản cơ thể chống lại bệnh tật. Giấc ngủ của thai phụ rất cấp thiết đối với sự phát triển và sức khỏe sau này của trẻ. Trong lúc đó, phụ nữ mang thai thường mất ngủ, chu kỳ ngủ bị gián đoạn, sự nghỉ ngơi nhìn chung đều bị thay đổi. Những nhân tố này làm nâng cao sự sản xuất cytokine và gây nhiều tác hại tới trẻ cũng như người mẹ. Các nghiên cứu trước đây cho thấy lúc dư thừa cytokine, phụ nữ mang thai dễ sinh non và bị tiền sản giật.

Nghiên cứu mới phát hiện bất kỳ sự trảo đổi nào trong giấc ngủ của thai phụ đều có thể làm tăng nguy cơ trẻ sinh ra nhẹ cân và các biến chứng khác.

Lan Thu

(Theo Psychosomatic Medicine, 7/2013)

Phòng hen suyễn ở người cao tuổi

Hen suyễn là một bệnh cấp hoặc mạn tính của đường hô hấp. Bệnh gặp tại mọi lứa tuổi và đều có thể gây hiểm nguy nhưng với người cao tuổi (NCT) thì càng cần thận trọng hơn vì tuổi cao, sức yếu. Tuy nhiên, bệnh hay bị bỏ sót vì ở NCT đôi lúc còn mắc 1 số bệnh khác cũng gây khó thở như bệnh tim, giãn phế quản, khí phế thũng, phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD).

Vì sao NCT dễ mắc bệnh?

  NCT, mọi chức năng của cơ thể đã bắt đầu hoặc đã suy giảm, trong đó chức năng miễn dịch suy giảm rõ rệt. Vì vậy, NCT dễ bị nhiễm khuẩn đường hô hấp, dễ bị kích ứng với tác nhân lạ (bụi bẩn, khói thuốc, khói bếp, lông chó, mèo), hoặc một số ký sinh trùng (mạt, mò, nấm mốc...). Một số thực phẩm cũng có thể kích thích gây nên cơn hen suyễn tại NCT hoặc làm cho bệnh hen suyễn nặng (tôm, cua, mắm tôm, trứng vịt lộn). Ngoài ra, tác dụng phụ của 1 số thuốc (thuốc điều trị bệnh về khớp loại không steroid như diclofenac, piroxicam, indomethacin, tilcotil...; thuốc điều trị bệnh nâng cao huyết áp loại chẹn bêta (atenolol) cũng gây bệnh hen hoặc làm cho bệnh hen nặng thêm. Ngoài ra, có một số yếu tố nguy cơ cao làm có hiện tượng cơn hen hoặc làm cho cơn hen nặng thêm tại NCT là thời tiết đánh tráo (nóng, lạnh đột ngột), viêm mũi dị ứng, bệnh mề đay, bệnh viêm da dị ứng, bệnh tổ đỉa, bệnh chàm, hút thuốc lá, thuốc lào.

Phòng hen suyễn tại người cao tuổi 1Bệnh hen suyễn gặp ở mọi lứa tuổi nhưng với người cao tuổi cần thận trọng vì tuổi cao, sức yếu.

Nhận biết bệnh bằng cách nào?

Ho, khò khè, khó thở, nặng ngực thường thấy ở đa số bệnh nhân hen suyễn, trong đó khó thở là triệu chứng đặc trưng nhất do co thắt phế quản đột ngột. Cơn hen cấp tính ít khi có dấu hiệu báo trước và lúc lên cơn hen thường khó thở, làm người bệnh rất mệt mỏi, đôi khi thấy môi bị tím tái, lồng ngực, cơ hoành bị co kéo do thiếu dưỡng khí đột ngột. Người bệnh thường phải ngồi dậy để thở, kèm theo là tiếng khò khè trong ngực, xuất tiết nhiều chất đờm (lúc đầu là đờm đặc, sau đó lỏng dần). Bệnh nhân có thể sốt do bội nhiễm. Ở NCT thường sốt nhẹ hoặc không sốt do phản ứng của cơ thể bị giảm. Khi bị viêm nhiễm đường hô hấp kèm theo thì niêm mạc đường hô hấp (khí quản, phế quản, phế nang) sẽ bị sưng nề làm chít hẹp đường đi của dưỡng khí nên càng gây khó thở. Người bị hen suyễn mạn tính thường mệt mỏi, da xanh, lười vận động do thiếu oxy trường diễn. Ho là 1 triệu chứng luôn thấy ở NCT bị hen suyễn do phế quản bị phù nề kèm theo bị co thắt mạnh, đặc biệt lúc thời tiết trảo đổi (nóng quá, lạnh đột ngột) hay lao động nặng hoặc khi gắng sức (bưng bê vật nặng, lên cầu thang). Ho kéo dài nhiều ngày, thường diễn ra về nửa đêm về sáng và nhất là lúc bệnh nặng lên. Ho thường xuyên hoặc thỉnh thoảng nên người bệnh thường nghĩ mình bị viêm họng chứ không phải hen suyễn. Hen là một bệnh hay gặp ở NCT, tuy vậy, bệnh hay bị bỏ sót vì tại NCT đôi khi còn mắc 1 số bệnh khác cũng gây khó thở như bệnh tim, bệnh giãn phế quản, bệnh khí phế thũng, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tĩnh (COPD).

Lời khuyên của bác sĩ

NCT cải thiện không để mắc các bệnh vào đường hô hấp. Muốn vậy, cần vệ sinh răng miệng thật tốt, đặc biệt người mang răng giả. Khi có nghi ngờ mắc bệnh đường hô hấp, nhất là những người có cơ địa dị ứng, cần phải đi khám bệnh ngay và điều trị dứt điểm, tuân thủ chỉ định của bác sĩ. Những người đã mắc bệnh hen ngoài điều trị bệnh khi lên cơn hen, việc điều trị dự phòng là hết sức cần yếu nhằm ngăn ngừa bệnh tái phát hoặc nặng thêm. Người bệnh hen suyễn nên đi khám bệnh định kỳ hoặc được bác sĩ theo dõi sát sao. Khi NCT lên cơn hen cấp, cần khẩn trương tới trung tâm y tế gần nhất để cấp cứu kịp thời, tránh để xảy ra sự cố không mong muốn. Để tránh mắc bệnh hen hoặc cơn hen không tái phát, người bệnh cần được tại trong nhà thoáng mát, không có khói, bụi; không hút thuốc lá, thuốc lào, tránh ăn các loại thức ăn có nguy cơ cao gây hen suyễn hoặc làm cho bệnh nặng thêm như: tôm, cua, ốc... Không nên nuôi chó, mèo trong nhà khi có người mắc bệnh hen suyễn. Tập thể dục đều đặn hàng ngày, nhất là là vươn vai và tập hít thở thật sâu cũng là 1 biện pháp bộ phận bệnh hen và nỗ lực cuộc sống.

ThS.BS. Mai Hương

Thời điểm lão hóa của các bộ phận cơ thể

Não: 20 tuổi: Số lượng tế bào não trung bình là khoảng 100 tỷ nơron và Tiến hành giảm đi từ tuổi 20. Chuyên gia về thần kinh học của Trung tâm giải đáp sức khỏe thuộc Học viện Imperial London (Anh) cho biết, tế bào thần kinh bị thoái hóa theo thời gian gây ra nhiều ảnh hưởng nhất cho cơ thể con người. Khi 40 tuổi, mỗi ngày có khoảng 10.000 nơron lão hóa, chức năng điều phối và trí nhớ suy giảm rõ rệt.Đường ruột: 55 tuổi: Đường ruột khỏe có tác dụng cân bằng các lợi khuẩn và hại khuẩn. Đến tuổi 55 các lợi khuẩn đường ruột giảm đi đáng kể, kết quả là chức năng tiêu hóa suy yếu, dễ bị táo bón và nâng cao nguy cơ mắc các bệnh vào đường ruột.Ngực: 35 tuổi: Với phụ nữ, khi 35 tuổi, vòng một viên mãn sẽ “xẹp” bớt đi. Từ 40 tuổi, ngực Tiến hành chảy xệ. Khả năng mắc ung thư vú tăng theo độ tuổi.Bàng quang: 65 tuổi: Mất khả năng kiểm soát bàng quang là bệnh thường gặp tại người già. Ở tuổi 65, bàng quang bị thu nhỏ, không đủ khoảng trống chứa hết nước tiểu. Phụ nữ rất dễ gặp các bệnh lý về bàng quang, do tuổi cao, mức estrogen giảm khiến các mô niệu đạo mỏng đi, chức năng hỗ trợ bàng quang cũng yếu dần. Dung lượng bàng quang của người trung niên chỉ bằng một nửa người trẻ tuổi. Do đó, lúc càng già, số lần đi tiểu càng nhiều. Hơn nữa, tình trạng tiểu dắt ở tuổi già còn dễ gây nhiễm trùng niệu đạo.Phổi: 20 tuổi: Ở tuổi 20, chức năng phổi đã bắt đầu suy yếu. 30 tuổi, mỗi lần hít, phổi thường chứa được 946 ml không khí, nhưng lúc 70 tuổi, con số này giảm xuống chỉ còn 473 ml.Giọng nói: 65 tuổi: Càng lớn tuổi, giọng nói càng nhỏ, trầm và khàn đi. Nguyên nhân là các cơ quan vòm họng lão hóa, ảnh hưởng tới chất lượng và độ lớn của âm thanh.Mắt: 40 tuổi: Với người có thị lực bình thường, ở tuổi trung niên mắt thường chuyển sang viễn thị. Tuổi cao, các cơ vùng mắt nhão, thị lực giảm sút và dễ mắc bệnh lý về thủy tinh thể.Tim mạch: 40 tuổi: Ở tuổi này, mạch máu giảm tính đàn hồi, động mạch bị xơ cứng, nguyên nhân do chất béo tích tụ tại thành mạch, lượng máu bơm đến tim giảm, từ đó dẫn tới các cơn đau thắt ngực. Phụ nữ từ 45 tuổi, nam giới từ 55 tuổi tỷ lệ mắc bệnh tim rất cao. Gan: 70 tuổi: Gan được cho là bộ phận cơ thể chống chọi được dài hơi nhất. Bác sĩ ngoại khoa vào gan thuộc Bệnh viện Hoàng gia Leicester của Anh chỉ ra “ở người khỏe mạnh, khả năng tái sinh của tế bào gan rất mạnh mẽ”. Nếu có chính sách sinh hoạt điều độ, không mắc bệnh truyền nhiễm và không uống rượu thì lá gan của một người 70 tuổi vẫn có thể cấy ghép cho người 20 tuổi.

Theo ANTĐ/ Xinhuanet

Đeo kính sao cho đẹp lại khỏe đôi mắt

Ngày nay, kính đeo không chỉ là 1 thiết bị nhằm nâng cao thị lực mà còn có tác dụng bảo vệ mắt, tăng thẩm mỹ và có tác dụng phối hợp điều trị 1 số loại bệnh về mắt.

Tác dụng của kính đeo

Kính đeo có tác dụng nỗ lực thị lực nhất là đối với những ca bị tật khúc xạ. Tuy nhiên, không phải toàn bộ các ca đều phải sử dụng kính. Đối với những ca viễn thị chỉ nên điều chỉnh kính khi viễn thị từ 3D trở lên nhưng ví dụ có lác trong hoặc có 1 số triệu chứng chủ quan thì viễn thị dù thấp vẫn nên được điều chỉnh kính. Đối với cận thị dù là cận thị nhẹ nhưng thị lực vẫn giảm và phải đeo kính. Đối với loạn thị nên đeo kính điều chỉnh khi có loạn thị từ 1D trở lên.

Phòng chống nhược thị: khi người bệnh có tật khúc xạ ví dụ không điều chỉnh kính hình ảnh sẽ không rõ nét và hoàng điểm của mắt đó dễ bị ức chế dẫn tới nhược thị. Nếu tình trạng này được phát hiện và điều chỉnh kính sớm sẽ bộ phận tránh được nhược thị.

Đeo kính sao cho đẹp lại khỏe đôi mắt 1Việc đo khúc xạ phải được làm thật chính xác
.
Trong nhiều trường hợp lác có thể dùng kính đeo kết hợp với lăng kính để điều trị và duy trì sự phối hợp thị giác 2 mắt. Một số hình thái lác như lác trong điều tiết, lác trong có tỉ lệ AC/C cao, lác ngoài việc điều trị kính đeo sắp như bắt buộc.

Bảo vệ mắt tránh bụi gió và các tia có hại.

Trong nhiều trường hợp kính đeo làm tăng thêm thẩm mỹ cho người dùng với hình thức và màu sắc ngày càng phong phú.

Để có chỉ định 1 cặp kính rất tốt

Việc cần thiết nhất là thầy thuốc phải đo khúc xạ thật chuẩn xác và đáp ứng được nhu cầu của người có nhu cầu đeo kính. Muốn làm được điều này yêu cầu thầy thuốc phải tuân thủ rất tốt chu trình đo khúc xạ, có trình độ và cần có sự phối hợp rất tốt của người bệnh. Bên cạnh đó người bệnh cần được thăm khám và hỏi tiền sử bệnh kỹ càng để phát hiện những bệnh mắt và toàn thân khác phối hợp để có chỉ định điều trị phù hợp.

Các loại kính đeo

Người ta có thể phân ra nhiều loại kính như kính trắng đơn thuần kính màu. Kính màu là những kính bảo vệ mắt chống lại một phần hay tất cả các tia có hại. Có nhiều loại kính màu như màu nâu, màu xanh hay màu xám. Người cận thị ưa sử dụng màu nâu, người viễn thị thích màu xanh. Cũng có thể phân ra kính đơn tròng, 2 tròng hay kính đa tròng. Việc lắp đặt kính đơn tròng thì đơn giản nhưng đối với kính 2 tròng yêu cầu lắp đặt phức tạp hơn. Vì khi nhìn sắp trục quang học của mắt kính là vùng nằm giữa khoảng từ 6 - 10mm dưới quang tâm của mắt kính nhìn xa và lệch vào phía trong hai - 4mm. Do vậy, đối với kính 2 tròng sẽ có đường ranh giới giữa phần kính để nhìn xa và kính nhìn gần, đường này nằm ở ngang giữa diện đồng tử. Gần đây, kính đa tròng đã được vận dụng với 1 số ưu năng nhưng chưa được dùng rộng rãi.

Yêu cầu vào kính

Một cặp kính rất tốt phải có chất lượng tốt của cả phần gọng và mắt kính.

Phần gọng kính tốt phải đạt các tiêu chuẩn vào độ dài của càng kính, độ nghiêng của kính và có cầu tỳ mũi phù hợp. Gọng kính có thể được sản xuất bằng chất dẻo tổng hợp hoặc bằng kim loại nhưng cần được đáp ứng các yêu cầu sau: phải cứng chắc nhưng nhẹ, không dễ bị méo mó và thích ứng hoàn toàn với mắt lúc nhìn xa và khi nhìn gần.

Phần mắt kính được cố định vào gọng kính bằng chỉ nylon, chỉ thép, ốc. Mắt kính phải đạt những đề nghị căn bản như công suất kính phải đúng, tâm của mắt kính phải trùng với trục thị giác, mắt kính phải tạo ra góc 150 so với mặt phẳng đứng và khoảng cách từ mặt sau của mắt kính đến mắt là 12mm.

Ngoài ra một cặp kính tốt yêu cầu phải có kích thước, khuôn mẫu và màu sắc thích hợp với từng người.

 TS.BS. VŨ THỊ BÍCH THỦY


Liệu pháp xạ trị và tai biến đáng tiếc

Liệu pháp xạ trị (còn gọi là điều trị bằng tia xạ, chiếu tia xạ) là phương pháp điều trị y học dùng các tia bức xạ năng lượng cao hoặc các hạt đồng vị phóng xạ phát ra từ các máy xạ trị hoặc các nguồn phóng xạ để chữa bệnh, đặc biệt bệnh ung thư. Tuy nhiên, vì 1 lý do nào đó, nó lại làm cho nhiều người bị nhiễm xạ dẫn tới tử vong như hai trường hợp đáng buồn dưới đây.

Sự cố liệu pháp xạ trị tại BV Zaragoza năm 1990

Đây là sự cố đau lòng diễn ra tại Bệnh viện Zaragoza ở Tây Ban Nha từ ngày 10 đến ngày 20/12/1990 làm 27 bệnh nhân bị thương và 11 người tử vong. Tất cả những người bị thương đều là bệnh nhân ung thư đang được trị bệnh bằng liệu pháp chiếu tia xạ. Theo Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA) thì đây là 1 trong những sự cố nguyên tử dân sự lớn nhất xảy ra trên thế giới,  liên quan tới sự cẩu thả của con người, không tuân thủ các quy định vào an toàn năng lượng nguyên tử. Chuyện kể từ ngày 7/12/1990 khi nhân viên bảo dưỡng máy gia tốc điện tử tại Bệnh viện Zaragoza đã không làm tròn trách nhiệm, trong lúc đó, Ủy ban An toàn nguyên tử quốc gia Tây Ban Nha lại bỏ qua  không nghiệm thu và cho phép máy đưa vào sử dụng ngay. Ngay sau lúc đưa vào sử dụng, ngày 19/12/1990, máy đã phát sinh sự cố, có mức công suất cực lớn,  hầu hết bệnh nhân được điều trị đã bị bỏng nặng, nhất là là ở những vùng được chiếu xạ, gây viêm nhiễm nội tạng và tủy xương. Ngày 16/2/1991, sau hai tháng điều trị bằng liệu pháp bức xạ, bệnh nhân trước nhất tử vong, con số tử vong tiếp diễn tăng lên và đến ngày 25/12/1999, con số thiệt mạng đã lên tới 25 người. Số người bị nhiễm phóng xạ nâng cao lên rất nhiều, có ít nhất 27 trong số 31 bệnh nhân ung thư được sử dụng máy gia tốc điều trị bị nhiễm độc và bị bỏng nặng. Theo báo cáo của lãnh đạo Bệnh viện Zaragoza, thiết bị dùng cho liệu pháp xạ trị có tuổi thọ 14 năm nhưng lúc bảo dưỡng, sửa chữa lại không tuân thủ theo hướng dẫn, quá trình quy phạm, nhất là là sự cố hệ thống điều khiển chùm tia của máy gia tốc. Bảo dưỡng không đúng quy trình, không khắc phục được sự cố nên dòng điện phát ra quá lớn gây bỏng. Thông thường, liệu pháp chiếu xạ cần mức năng lượng là 7MeV, nhưng máy gia tốc điện tử của Zaragoza lại có công suất nâng cao vọt đến 40MeV. Sau sự cố nói trên, ban lãnh đạo bệnh viện đã đổ lỗi cho nhân viên bảo dưỡng, nhưng Bộ Y tế Tây Ban Nha lại đổ trách nhiệm cho hãng GE (General Electric) nơi bán thiết bị đã không làm đúng trách nhiệm bảo dưỡng, giải quyết sự cố định kỳ. Sau sắp 3 năm tranh cãi, cuối cùng, về ngày 6/4/1993, Tòa án Tối cao Tây Ban Nha đã phán quyết bệnh viện, Viện y học quốc gia của Tây Ban Nha vô tội, nhưng nhân viên bảo dưỡng thiết bị và hãng GE phải chịu trách nhiệm. Riêng hãng GE phải có trách nhiệm bồi thường cho các nạn nhân, gia đình những người bị thiệt mạng số tiền 400 triệu pesetas (tương đương 2,4 triệu euro). Thiết bị gia tốc nói trên đã được giải quyết sự cố, hoạt động tới tháng 12/1996, sau đó được “nghỉ hưu” 1 cách bí mật, nhưng nó đã trở thành bài học đắt giá về sự cẩu thả của con người.

Liệu pháp xạ trị và tai biến đáng tiếc 1 Một số bệnh nhân bị bỏng do xạ trị.

Sự cố xạ trị ung thư tại Viện Ung thư quốc gia Panama

Từ tháng 8/2000 tới tháng 3/2001, có 28 bệnh nhân được điều trị ung thư tiền liệt tuyến và ung thư tử cung chiếu xạ ở Viện Ung thư quốc gia Panama (ION). Tất cả những người này đều được xạ trị liều cao gây nguy hiểm chết người nhưng hoàn toàn không được qua kiểm chứng trước. Sự thiếu trách nhiệm chuyên môn của ION đã gây hiểm nguy tới tính mạng con người.

Trước đó, tháng 6/1999, Viện Ung thư quốc gia Panama được trang bị nhiều thiết bị trị ung thư hiện đại như máy gia tốc tuyến tính, máy CT và ICU... Giống như các bệnh viện ung thư khác, ION có khoa điều trị bằng liệu pháp xạ trị, sử dụng hệ thống TPS (dàn máy tính lập kế hoạch điều trị). Đây là hệ thống có khả năng tính toán nhanh việc phân bố hàm lượng tối ưu theo 3D và đưa ra các thông số che chì, lọc nêm trên mỗi chùm tia. Toàn bộ các thông số kỹ thuật, dữ liệu liên quan đến bệnh nhân đều được truyền qua máy tới máy điều trị. Nhờ hệ thống TPS, người ta biết được mức che chắn tối đa dựa trên chùm tia cho mỗi lần điều trị cũng như liều lượng tối ưu nhằm bảo vệ mô khỏe mạnh không bị tổn thương trong quy trình xạ trị. Đến năm 2000, phương pháp tính toán các khối che chì dạng số được thay đổi, cho phép người ta lấy nhiều chỉ số che chì cùng 1 khi thay vì một chỉ số đơn như trước, hậu quả liều lượng mà bệnh nhân tiếp nhân được tăng vọt so với liều lượng quy định và cuối cùng làm cho 28 bệnh nhân gặp nạn chỉ mất khoảng từ tháng 8/2000 đến 2001, trong số này có 17 người thiệt mạng và 11 người khác bị thương. Thực ra thì việc thay mới nói trên được xem là sáng kiến nhưng nó lại không được kiểm chứng, nghiệm thu hoặc đối chiếu kỹ càng nên hậu quả liều chiếu xạ nâng cao vọt so với ngưỡng cho phép, đến khi phát hiện ra thì  đã quá muộn.

Sau thời gian dài tranh cãi, 5 bác sĩ và hai chuyên gia vật lý của Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA) và các nhân viên giám sát của Tổ chức Y tế liên Mỹ (PAHO) đã vào cuộc theo yêu cầu của Chính phủ Panama. Kết quả, việc phơi nhiễm bức xạ bằng kỹ thuật xạ trị tại ION là cực kỳ nghiêm trọng. Rất nhiều bệnh nhân đã phơi ra môi trường bức xạ cực lớn, cao hơn ngưỡng cho phép từ 30-50%. Đây là sự cố “xưa nay hiếm” chưa từng xảy ra trong ngành y học. Theo IAEA, đây là lỗi của lĩnh vực y, an tâm quá lớn vào những thiết bị hiện đại trong khi đó kiến thức con người lại có hạn, nhất là khâu về dữ liệu không hợp cách, nhất là là khối chì bảo vệ, làm tăng liều xạ trị. Ngoài những người tử vong do nhiễm liều quá cao, những người khác tuy không tử vong nhưng cũng làm cho bệnh tình của họ phát triển thành trầm trọng.    

       NAM GIANG

       (Theo WP/ION- 7/2013)

Thoái hóa khớp bàn tay và cách phòng ngừa

Người xưa có câu “giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”.  Bàn tay rất khéo léo, linh hoạt và là một công cụ lao động vô cùng hiệu quả. Tuy nhiên, thoái hóa khớp bàn tay (THKBT) là một trong các bệnh khớp thường gặp ở người có tuổi, gây đau, ảnh hưởng nhiều tới chức năng vận động và đời sống sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân. Ở Việt Nam, THKBT chiếm tỷ lệ 14%, đứng hàng thứ tư trong các vị trí thoái hóa khớp thường gặp.

Thoái hóa khớp bàn tay và cách bộ phận ngừa 1Bàn tay bình thường và bàn tay viêm khớp.

Thoái hóa khớp thường đi kèm với tuổi tác

Tuổi trung bình của bệnh nhân THKBT là 60 - 65 tuổi. Tuy nhiên, từ độ tuổi 55 đã bắt đầu xuất hiện các biểu hiện của THKBT. Tỷ lệ THK tăng dần theo tuổi, cao hơn tại nhóm tuổi từ 60 trở lên và cao nhất ở nhóm 70 - 79 tuổi. Tuổi cao là yếu tố nguy cơ cao nhất của THK, có thể nói rằng tuổi càng cao, lượng máu tới nuôi dưỡng vùng khớp bị giảm sút, sự lão hóa sụn càng rõ, làm cho sụn kém chịu đựng được các yếu tố tác động có hại lên khớp. Ngoài ra, người già vẫn phải làm việc thêm để kiếm sống, chăm lo các công việc trong gia đình như giặt giũ, bế cháu, các công việc nội trợ khác, họ lao động chân tay là chủ yếu, tạo điều kiện cho THK phát triển. Thứ hai, bệnh cũng thường gặp ở nữ giới (75%). Nguyên nhân có thể là do sự thay đổi hormon như estrogen, dẫn tới đánh tráo tế bào sụn khớp. Thứ ba, những người béo phì cũng dễ bị THKBT. Có tới 1/3 bệnh nhân THKBT bị béo phì. Thứ tư là THKBT thường xuất hiện sau một số bệnh lý bàn tay như sau chấn thương, gãy xương khớp, hoại tử xương, viêm khớp dạng thấp, gút mạn tính, đái tháo đường...

Dấu hiệu của THKBT thế nào?

Bàn tay phải hay bị thoái hóa hơn, vì phần nhiều trong chúng ta đều thuận tay phải, dùng nhiều tay phải hơn trong cuộc sống, lao động và sinh hoạt. Trong số 5 ngón tay thì các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa (ngón I, II, III) hay bị thoái hóa nhất, do các ngón này phải hoạt động tích cực nhất như lúc cầm,  nắm, mang, vác, hay xách đồ vật. Còn trong các vị trí khớp của từng ngón tay thì khớp gốc ngón tay cái hay bị THK nhất, liên quan tới việc dùng các khớp này nhiều nhất khi cầm nắm đồ vật. Đặc biệt, khớp gốc ngón tay cái có hình yên ngựa, đảm nhiệm chức năng cầm nắm đồ vật của bàn tay, bởi vậy dễ bị tổn thương hơn. Hiện nay, người ta đã chứng minh vai trò chắc chắn của yếu tố nghề nghiệp trong THK gốc ngón tay cái ở phụ nữ. Người bệnh than phiền đau khớp bàn tay một bên hoặc cả hai bên, đau kiểu cơ học, tức là đau lúc vận động và giảm lúc nghỉ ngơi. Đau tăng lên lúc mặc quần áo, lúc cài Tkhuy áo; đau khi nắm bàn tay lại, đau khi rót nước vào ly và đỡ đau lúc nghỉ ngơi. Đau thường chỉ ở mức độ nhẹ và trung bình. Vào buổi sáng, khi thức dậy, khớp bị cứng, khó cử động, kéo dài từ 15 - 30 phút. Cứng khớp sau khi nghỉ ngơi cũng thường gặp. Đó là dấu hiệu phá rỉ khớp. Dần dần bàn tay trở thành khó làm các động tác sinh hoạt thường ngày hơn, phát tiếng lạo xạo lúc cử động, các cơ bàn tay teo nhỏ. Ở các giai đoạn muộn, 1/3 số người bệnh có các ngón tay bị biến dạng. Đó là do sự có mặt của các chồi xương, mọc ở khớp ngón xa (hạt Heberden) hay tại khớp ngón gần (hạt Bouchad), gây ảnh hưởng tới thẩm mỹ. Khoảng 50% số bệnh nhân THKBT gặp khó khăn khi thực hiện các công việc tự chăm sóc bản thân, nội trợ và các công việc trong sinh hoạt hàng ngày khác như chải đầu, giặt giũ, mặc quần áo, ăn, uống, chăm sóc con cháu, bế cháu. Có 4 dấu hiệu cơ bản của THKBT là gai xương, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, hốc xương. Có thể chụp thêm Xquang bàn tay để chẩn đoán xác định.

Thoái hóa khớp bàn tay và cách phòng ngừa 2Người cao tuổi tránh bê vật nặng để phòng thoái hóa khớp bàn tay.

Làm gì để bộ phận THKBT?

Cần tránh lao động, mang vác nặng. Không nên sử dụng đôi tay trong thời gian liên tục, quá dài.  Các thành viên trong gia đình và cộng đồng xã hội nên quan tâm, chia sẻ bớt gánh nặng của người cao tuổi. Tăng cường việc sử dụng trang thiết bị hỗ trợ cho lao động và sinh hoạt ví dụ có thể. Việc phát hiện sớm THK bàn tay là cần thiết, vì sẽ giúp điều trị sớm, giảm thiểu các hậu quả của bệnh. Khi có các dấu hiệu như đau khớp bàn tay, biến dạng khớp hay cứng khớp buổi sáng, hạn chế vận động bàn tay thì nên đến khám chuyên khoa xương khớp để được giải đáp và điều trị kịp thời.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc

(Khoa Khớp - BV Bạch Mai)


Virus MERS

Một nghiên cứu mới tuyên bố bố ngày 5-7 cho biết, loại virus corona gây hội chứng viêm hô hấp tại Trung Đông (gọi tắt là MERS-CoV) sẽ không thể lây lan thành đại dịch.

Virus MERS-CoV đã gây ra nhiều ca tử vong tại Pháp, Đức, Ý, Tunisia và Anh diễn ra từ lúc được phát hiện về cuối năm ngoái và ngày 4-7, bệnh viện Guy’s and St Thomas (Anh) vừa xác tiếp nhân thêm 1 trường hợp bệnh nhân có quốc tịch Qatar đã tử vong do nhiễm virus này. Tuy nhiên, theo số liệu của một nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm nghiên cứu Pasteur (Paris, Pháp), “tốc độ và phạm vi lan truyền của MERS-CoV không bằng SARS. SARS chỉ tốn vài tháng thích ứng để xâm nhập cơ thể con người, còn virus này đã có hiện tượng hơn 1 năm nhưng vẫn chưa có dấu hiệu biến thể dễ dẫn đến đại dịch”.Mặc dù nhận định khả năng lây truyền của MERS-CoV như vậy, nhưng trưởng nhóm nghiên cứu - ông Arnaud Fontanet vẫn đề nghị ngành nghề y tế cần tiếp diễn giám sát chặt chẽ các ca bệnh và đẩy nhanh công tác nghiên cứu phương thức lây lan cũng như vật chủ cư trú của loại virus này.

Theo ANTĐ/ Cn.Reuters

Làm sao hết mùi hôi cơ thể?

Tôi có rất nhiều mồ hôi và rất nặng mùi nên rất mất tự tin mỗi lúc phải tiếp xúc với người khác. Tôi cũng đã sử dụng lăn khử mùi nhưng vẫn rất khó chịu đối với người xung quanh. Làm sao hết mùi hôi, thưa bác sĩ ?

Nguyễn Thị Ngát (ngatbeo779@ymail.com)

Trên da và các lỗ tự nhiên của mỗi người có một số loại vi khuẩn lập nên 1 khuẩn chí riêng tại từng người. Mùi hôi là do vi khuẩn lên men mồ hôi. Có nhiều biện pháp khử mùi hôi cơ thể, bạn nên dùng phối hợp để khử mùi hiệu quả. Làm sạch vi khuẩn trên da bằng cách tắm rửa hàng ngày, rửa vùng kín bằng nước sạch và xà bộ phận diệt khuẩn. Mùa hè ra nhiều mồ hôi nên bạn phải tắm rửa ngày hai - 3 lần. Phụ nữ cần dùng dung dịch vệ sinh rửa vùng kín hàng ngày. Nếu bị viêm nhiễm phụ khoa thì phải đi khám và điều trị tích cực, vì chỉ lúc nào hết viêm nhiễm thì mới hết mùi hôi. Sử dụng lăn khử mùi: thành phần của lăn khử mùi thường gồm chất diệt vi khuẩn, chất làm giảm tiết mồ hôi nách, chất bắt giữ mùi hôi. Các chất này tác dụng với các chất có mùi hôi ở nách, tạo thành hợp chất không có mùi hôi. Dùng một số bài thuốc Đông y chữa hôi nách rất hiệu nghiệm như: phèn chua tán bột mịn, xát vào nách, ngày 1 lần; cắt quả chanh tươi, lấy nửa quả xát về 2 bên nách, đợi khoảng 5-10 phút thì rửa sạch; gừng tươi, giã nát, gạn lấy nước bôi vào nách, ngày 1 lần. Bạn nên kiêng ăn các gia vị nặng mùi như hành, tỏi, thịt chó, cá có mùi tanh nhiều, rượu bia...

BS. Trần Thanh Tâm

Điều trị chứng lồi mắt trong bệnh Basedow

Chứng lồi mắt ảnh hưởng tới vẻ đẹp của khuôn mặt người bệnh, khiến họ mất ăn, mất ngủ. Rất nhiều bệnh nhân đã yêu cầu các bác sĩ tìm mọi cách điều trị cho mình hết chứng bệnh này.

Trong bệnh Basedow lồi mắt là dấu hiệu hay gặp nhất. Theo những công trình nghiên cứu mới nhất, dấu hiệu này gặp được trong 40 - 45% các trường hợp. Chính vì vậy người ta còn gọi bệnh Basedow với một cái tên khác là bệnh bướu cổ lồi mắt.

Phân loại mức độ lồi mắt

Lồi mắt thường diễn ra ở cả 2 mắt, đôi khi rõ rệt tại một bên hơn là bên kia. Cũng có những bệnh nhân chỉ bị lồi một bên mắt nhưng rất hiếm gặp.

Đi kèm với chứng lồi mắt bệnh nhân thường cảm thấy chói mắt, chảy nước mắt sống, cảm giác như có bụi bay vào mắt hoặc rất nóng rát. Nặng hơn bệnh nhân có thể bị khô và loét giác mạc là nguyên do gây lên mù lòa vĩnh viễn.

Trong thực hành bệnh viện, các bác sĩ hay vận dụng bảng phân loại Werner của Hiệp hội Tuyến giáp Mỹ với 6 mức độ: độ 1 và 2  là nhẹ, độ 3 là vừa, độ 4 - 6 là nặng.

Điều trị chứng lồi mắt trong bệnh Basedow 1
Bệnh nhân thường bị lồi 2 bên mắt nhưng cũng có bệnh nhân chỉ lồi 1 bên mắt
Với những trường hợp khó khăn trong chẩn đoán và phân loại, người ta dùng thước đo độ lồi mắt Hertel. Độ lồi mắt khác nhau tùy theo chủng tộc và dân tộc, ở người Việt Nam thông thường độ lồi mắt về khoảng 12mm, độ lồi nâng cao lên trong bệnh nhân Basedow.

Điều trị như thế nào?

Một số trường hợp chứng lồi mắt có thể trảo đổi cùng với tiến triển của bệnh sau lúc điều trị. Khoảng 30% số bệnh nhân sẽ hết lồi mắt sau lúc phẫu thuật, thường là những bệnh nhân lồi mắt tại mức độ nhẹ và vừa.

Có 3 phương pháp điều trị chứng lồi mắt gồm: sử dụng thuốc corticoides liều cao, xạ trị và phẫu thuật.

Với những bệnh nhân lồi mắt độ 1, thường không cần được điều trị.

Những bệnh nhân lồi mắt độ 2, việc điều trị bao gồm:

- Đeo kính sẫm màu.

- Nhỏ hoặc tra các loại pomade nước mắt nhân tạo để tránh biến chứng khô giác mạc.

Nhỏ 1 loại thuốc nước đặc biệt để làm giảm mức độ cường cơ vận nhãn. Thuốc này được cho theo chỉ định của bác sĩ nhãn khoa.

Những bệnh nhân lồi mắt từ độ 3 trở lên, việc điều trị phức tạp hơn nhiều và không phải khi nào cũng có hiệu quả:

- Thuốc corticoides liều cao như Prednisone 100mg một ngày (20 viên) từ 5 - 7 tuần. Tuy nhiên, cần Quan tâm khả năng dung nạp kém với corticoides ở người Việt Nam so với bệnh nhân phương Tây. Biến chứng  hay gặp nhất của việc sử dụng thuốc là viêm loét dạ dày có thể gây xuất huyết tiêu hóa và phù do giữ nước.

- Xạ trị: dùng máy tạo chất phóng xạ chiếu vào vùng hốc mắt: không những thế phương pháp này chỉ có hiệu quả điều trị lồi mắt trong giai đoạn sớm và không có tác dụng trong giai đoạn sẹo đã hình thành phía sau hốc mắt.

- Điều trị bằng phẫu thuật: được sử dụng cho những trường hợp thất bại với điều trị bằng corticoides và xạ trị, bao gồm:

Khâu cò mí mắt: nhằm làm giảm độ hở của mi mắt.

Phẫu thuật chỉnh hình làm giảm độ co rút của cơ vận nhãn.

Phẫu thuật làm giải áp hốc mắt trong những trường hợp lồi mắt ác tính có tổn thương thần kinh thị gây giảm và mất thị lực hoặc do yêu cầu thẩm mỹ của bệnh nhân.

Phẫu thuật tạo hình sau giải áp hốc mắt.

Tất cả những phẫu thuật này được thực hiện bởi các bác sĩ nhãn khoa và tạo hình.

 

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

100 thứ bệnh từ thức uống đường phố bẩn

Các loại vi khuẩn và hóa chất công nghiệp trong thức uống đường phố bẩn gây bệnh đường ruột và nhiều chứng bệnh mãn tính cho người dùng như ung thư, tiêu hóa...

Phó giáo sư Nguyễn Duy Thịnh - Viện Công nghệ thực phẩm Đại học Bách Khoa Hà Nội, khẳng định thức uống vỉa hè rất mất vệ sinh, luôn tiềm ẩn nguy cơ sinh bệnh bất cứ khi nào. Theo đó, nước uống đường phố  bị nhiễm độc có thể do cả 3 khâu là nguyên liệu, dụng cụ và nước để pha chế. Nguyên liệu đa phần bị nhiễm mấm mốc và các loại vi khuẩn như E.coli, B.cereus... Kết quả xét nghiệm nước uống bị nhiễm khuẩn, lỗi thuộc về chủ quan người bán hàng, chứng tỏ quán đó rất mất vệ sinh.

"E.coli là vi khuẩn tồn ở ở khắp mọi nơi, được xem là loại vi khuẩn chỉ thị. Vậy nên 1 mẫu trà đá, nước mía bị nhiễm khuẩn này chứng tỏ quán nước đó bẩn, mất vệ sinh. Càng nhiều E.coli thì chứng tỏ xung quanh càng có không ít vi khuẩn và khả năng gây bệnh đường ruột đau bụng, tiêu chảy rất lớn", phó giáo sư Thịnh cho biết.

Thống kê từ đầu năm tới nay của Cục An toàn Thực phẩm (Bộ Y tế), cả nước có 87 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 1.800 người mắc, trên 1.600 người đi viện và 18 ca bị tử vong. Tình trạng ngộ độc thực phẩm chính yếu tăng nhanh trong các tháng hè oi bức.

Mới đây, Viện Kiểm nghiệm và Hợp chuẩn thuộc Hiệp hội thực phẩm chức năng Việt Nam đã kiểm tra một số mẫu nước uống và vật liệu làm nước uống đường phố. Kết quả, 100% nhiễm khuẩn E.coli, B.cereus, nem mốc và có hàm lượng kim loại nặng như chì, cadimi, thủy ngân...

Theo ông Thịnh, thực tế kim loại nặng ít có trong nguyên liệu mà do chính các loại dụng cụ đựng và nguồn nước. Việc các quán nước uống vỉa hè chế nước uống, đựng đá trong các thùng, xô, chậu nhựa mà không phải là loại nhựa sử dụng trong thực phẩm, thì nguy cơ nhiễm kim loại nặng rất lớn. Thêm vào đó, kim loại nặng có lẽ nằm từ chính nguồn nước máy của thành phố mà lúc chỉ đun nấu bình thường, không qua chế độ lọc rửa thì không thể gặt đi được.

"Một quán nước sử dụng thùng sơn để chứa nước uống hay đựng đá bán cho thực khách thì không thể chấp nhận được và có thể xử phạt ngay bởi khả năng thôi nhiễm chất tạo màu, và nhiễm các kim loại nặng trong nhựa chế biến là rất cao", chuyên gia vào công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm nói.

Đại diện Viện Kiểm nghiệm và Hợp chuẩn cũng kết luận, việc tìm thấy các loại vi khuẩn trong những mẫu nước uống đường phố chứng tỏ đang có tình trạng mất vệ sinh, mất an toàn vào sức khỏe cho người dân lúc dùng các sản phẩm này. Cụ thể, vi khuẩn tìm thấy trong nước uống đường phố là nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm, đau bụng, tiêu chảy... Nước uống có nấm men, mốc quá mức cho phép làm nhiễm độc cấp tính và mạn tính người dùng, là căn nguyên gây ung thư. Nước uống đường phố nhiễm độc chì, thủy ngân và cadimi quá mức sẽ gây nhiều bệnh hiểm nghèo cho cơ thể.

Bác sĩ Trần Văn Ký, phụ trách chuyên môn văn bộ phận phía Nam Hội Khoa học kỹ thuật An toàn vệ sinh thực phẩm Việt Nam cho biết, vi sinh có không ít loại. Loại chỉ danh ô nhiễm, có nghĩa nếu vượt mức chỉ điểm ô nhiễm cho phép nhiều đến mất thì cũng chỉ gọi là nước bị ô nhiễm chứ không phải nước gây bệnh. Vi khuẩn hiếu khí thuộc nhóm này. Riêng vi khuẩn E.coli, salmonella, khuẩn tụ cầu là những loại có thể gây bệnh.

100 thứ bệnh từ thức uống đường phố bẩn 1Hỗn loạn hóa chất tạo mùi, tẩy trắng bán nhiều tại khu vực sắp chợ Kim Biên, quận 5, TP HCM. Ảnh: Thiên Chương.

Theo bác sĩ Ký, E.coli là loại thường gặp nhất trong phân người, thực phẩm có thể mắc vi khuẩn này lúc bàn tay của người chế biến thức ăn thức uống bẩn. Không phải cứ ăn uống thực phẩm nhiễm E.coli là sẽ bệnh; nếu cơ thể mạnh thì không sao, lúc cơ thể yếu như những người hệ tiêu hóa yếu, đang mệt mỏi, bị nhiễm bệnh thì vi khuẩn nhân lên và gây bệnh rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy.

Nếu nhiễm E.coli loại gây tiêu chảy cấp, cơ thể người bệnh sẽ bị mất nước nhanh, ví dụ không bù nước kịp có thể tử vong. Những trường hợp già yếu bệnh tật bị tiêu chảy cấp mà ở nhà 1 mình không có người đưa đi cấp cứu thì rất nguy hiểm. Cơ chế nhiễm E.coli là từ đồ dùng, vật dụng, tay chân của người bán hàng, nguồn nguyên liệu như nước, nước đá dùng để chế biến thức uống và kể cả thâm nhập từ môi trường xung quanh như gió bụi.

Khuẩn tụ cầu cũng là loại vi khuẩn dễ có mặt trong thức uống ví dụ người chế biến có vết thương tại tay. Khuẩn tụ cầu có thể gây tiêu chảy và rối loạn tiêu hóa cho người dùng khi ăn uống phải thực phẩm có chứa sẵn chất độc do khuẩn tụ cầu sinh ra từ vết thương của người chế biến. Khi về cơ thể thì khuẩn này sinh ra chất độc.

Salmonella là vi khuẩn gây kiết lỵ, đau bụng dữ dội, sốt. Loại khuẩn này có thể gây bệnh từ 8 giờ đến 72 giờ sau khi thâm nhập về cơ thể. Ngoài các loại trên thì virus viêm gan, vi trùng lao cũng có thể có mặt trong thực phẩm bẩn để về cơ thể và gây bệnh.

Theo ông Ký, để tiêu diệt được các loại vi khuẩn này, bình thường phải đun trên 1 tiếng đồng hồ ở nhiệt độ 70 độ C thì chúng mới có thể chết. Riêng khuẩn tụ cầu và vi trùng lao là những loại vẫn có thể tồn ở ở nhiệt độ cao. Chính vì thế các loại nước uống đóng chai thường được thanh trùng kéo dài trong nhiệt độ trên 150 độ C. "Điều này cho thấy khả năng vi trùng tồn ở trong thức uống vỉa hè là rất cao", ông Ký nói.

Một trong những nguồn nguyên liệu có thể mang vi trùng chính là nước đá. Ông Ký cho rằng thực tế không có trung tâm nước đá nào dùng nước tiệt trùng để sản xuất. Trong khi đó dù được hạ thấp nhiệt độ, song lúc đá tan ra thì vi trùng vẫn phát triển lại và có thể gây bệnh.

100 thứ bệnh từ thức uống đường phố bẩn 2Người sử dụng không ai biết trong ly nước đẹp màu gồm có những loại hóa chất gì. Ảnh: H.S

Nước uống đường phố, để có được màu sắc đẹp mắt, hương vị thanh tao và giá rẻ, theo ông Ký, công thức chế biến phổ biến chỉ là "hương - mùi - màu". Muốn có được nước uống hương gì, người bán chỉ cần ra chợ mua là có đủ. Thông thường, những loại hóa chất cho mùi thơm dai, màu đẹp mắt và vị thanh tao phần to đều là hóa chất công nghiệp độc hại.

"Các cụ nói của rẻ là của hôi. Bởi lúc ta mua vật liệu về chế biến thì không thể rẻ bằng ngoài hàng quán, chính vì vậy người bán không thể có lãi nếu chế biến nghiêm túc. Nhiều người tiêu sử dụng quá dễ dãi lúc dùng loại thức uống này mà không nghĩ đến sức khỏe", ông Ký nói.

Không chỉ gây ngộ độc cấp ví dụ dùng ở liều cao, theo bác sĩ Ký, người dùng thức uống bẩn có chứa hóa chất độc hại trong tương lai còn có nguy cơ bị các bệnh mãn tính, thậm chí mắc ung thư.

Kỹ sư Huỳnh Lê Thái Hòa, Trưởng Chi cục An toàn thực phẩm TP HCM cho biết, vấn đề quản lý hàng rong đã được đề cập nhiều năm hoạt động nay tuy nhiên vẫn còn 1 số khó khăn. Thứ nhất người hàng rong hôm nay ở chỗ này, mai ở chỗ khác. Thứ hai rất nhiều các hộ bán hàng rong thường có hoàn cảnh khó khăn nên khó xử phạt hành chính.

Kiểm tra đầu tháng 7 phát hiện một số mẫu nước giải khát nhiễm vi sinh, Chi cục dự kiến ngày 1/8 sẽ tập huấn cho 319 phường xã để lên kế hoạch, định hướng xử lý người bán rong. Theo ông Hòa, việc tập huấn này chính yếu là hỗ trợ để cải thiện chứ không nặng về xử lý vi phạm. 

"Trong trường hợp vi phạm sau nhiều lần nhắc nhở, người bán sẽ bị nêu lên tổ dân phố, hoặc phát lên đài truyền thanh của phường để người dân không ăn để buộc phải chấn chỉnh hoặc chuyển nghề", ông Hòa nói.

Theo ông Hòa, một trong những cách tẩy chay hàng rong kém an toàn vệ sinh thực phẩm hiệu quả là việc người tiêu dùng phải có ý thức không sử dụng những mặt hàng xét vào mặt cảm quan là không an toàn. "Khi người mua không dùng đến hàng rong chế biến không bảo đảm vệ sinh thì người bán không thể tồn ở được" ông Hòa nói.

Theo

VnExpress

Thường xuyên khử khuẩn giúp vết thương mau lành

Các vết thương mạn tính như viêm loét bàn chân do đái tháo đường gây ra hoặc các vết thương viêm nhiễm do phải nằm 1 chỗ lâu ngày có thể được chữa lành nhanh hơn lúc thường xuyên được vệ sinh sạch sẽ, 1 nghiên cứu ở Mỹ mới công bố.

TS. Robert Kirsner, chuyên gia về da liễu đến từ Đại học Miami Miller (Mỹ) cùng các cộng sự đã phân tích dữ liệu hồ sơ của 155.000 bệnh nhân đang điều trị tại 525 bệnh viện và trung tâm y tế trong khoảng thời gian từ năm 2008-2012. Những bệnh nhân này được điều trị với 313.000 vết thương bao gồm cả viêm loét bàn chân do đái tháo đường, vết thương hoại tử, vết thương hậu phẫu thuật, vết thương do tai nạn... Bệnh nhân thường được khử trùng, làm sạch vết thương hai lần/tuần hoặc hơn. Kết quả cho thấy, với vết thương viêm loét chân do đái tháo đường thời gian lành bệnh là 21 ngày so với 76 ngày của bệnh nhân không thường xuyên làm sạch vết thương, vết thương do chấn thương là 14 ngày so với 49 ngày của những người khác. Theo TS. Kirsner, vi khuẩn sẽ nhanh chóng nhất tấn công về các vết thương hở, bao phủ một lớp màng sinh học gây hoại tử tế bào. Việc khử khuẩn và vệ sinh liên tục giống như việc bạn chải răng sẽ giúp phá bỏ màng sinh học của vi khuẩn, giúp vết thương nhanh nhất phục hồi hơn.

M.H (Theo Reuters, 7/2013)

Cách đơn giản loại bỏ độc tố trong khoai

Để tránh ngộ độc từ mầm mọc tại củ khoai tây, bạn nên cắt bỏ phần xung quanh mầm khoai. Khoai mì (sắn) nên ngâm vào nước muối một đêm trước lúc chế biến.

 

Các loại khoai như khoai tây, sắn, khoai lang... thường được sử dụng nhiều nhưng ví dụ không biết cách sơ chế sẽ để lại nhiều độc tố có hại cho cơ thể. Dưới đây là những chia sẻ của đầu bếp Võ Quốc về cách giúp loại bỏ độc tố trong khoai lúc chế biến.

Cách đơn thuần gặt đi độc tố trong khoai 1Những củ khoai tây mọc mầm có độc tố sôlamin rất có hại cho cơ thể.

Khoai tây mọc mầm

Cẩn thận khi chọn, tránh những củ đã mọc mầm vì quanh những mầm này có chứa chất độc sôlamin, có thể gây đau bụng, tiêu chảy, táo bón… Dùng dao khoét thật sâu và bỏ hẳn phần quanh mầm này. Để giảm thiểu việc mọc mầm, khoai mua về không nên để bên ngoài nơi có không khí ẩm mà nên trữ trong ngăn mát tủ lạnh.

Khoai mì

Chất độc tập trung tại phần vỏ dày hai đầu khoai mì. Do đó, khi sơ chế, cần cắt sâu về 2 đầu để nhựa chảy ra và loại bỏ chất độc. Trước khi chế biến, nên ngâm khoai trong nước có pha tý muối khoảng một đêm, tuyệt đối không ăn sống và ví dụ lúc ăn thấy có phần đắng nên bỏ ngay vì đó là nơi tập trung chất độc.

Khoai hỏng

Khoai môn, khoai lang dễ bị sùng. Những củ khoai hư này thường có mùi hăng đặc trưng mà ví dụ bẻ ra có thể ngửi được. Nên bỏ đi, không nên tiếc, hoặc vạt bỏ phần sùng. Khi chọn, chú ý nhìn kỹ vỏ khoai vì khoai sùng sẽ biểu hiện qua bên ngoài với những lỗ sâu đục li ti, sờ mạnh về thấy chai và cứng.

 

Theo

VnExpress

9 chứng rối loạn tâm thần kỳ lạ

Tâm thần là một trong lĩnh vực “khó khăn” và ít được khai phá nhất của y học. Một bác sĩ tâm thần cũng khó có thể biết chắc những gì đang xảy ra trong đầu bệnh nhân. Chứng rối loạn tâm thần chúng ta thường biết tới như: tâm thần phân liệt, rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Nhưng trên thực tế, có không ít rối loạn mà phần nhiều mọi người cảm thấy nó khá kỳ lạ và hiếm gặp.

Hội chứng Landau-Kleffner

Đây là một rối loạn kỳ lạ được thể hiện lần trước hết vào năm 1957 bởi hai bác sĩ William M. Landau và Frank R. Kleffner. Bệnh thường xảy ra với trẻ khỏe mạnh, phát triển bình thường về cử động và ngôn ngữ, ở độ tuổi từ 5-7 tuổi. Trẻ biết nói và nói được ít nhiều rồi tự nhiên mất đi khả năng này, đột ngột hoặc từ từ, có trường hợp mất cả 2 khả năng nghe hiểu ngôn ngữ và nói. Một số trẻ bị co giật, động kinh. Các nhà khoa học chưa tìm được nguyên do gây ra chứng rối loạn này vì gần như trường hợp trẻ phát bệnh tự nhiên không có nguyên nhân.

9 chứng rối loạn tâm thần kỳ lạ 1Landau-Kleffner là 1 hội chứng kỳ lạ.

Hội chứng mất ý chí

Hội chứng mất ý chí không phải là 1 chứng rối loạn tâm thần phổ biến, nó xảy ra lúc người bệnh do dự khi quyết định điều gì đó khiến não bộ bị tê liệt. Người mắc căn bệnh này phải đối mặt với những điều tưởng chừng rất khó tin vì họ sắp như không làm được các việc đơn giản, thậm chí việc hỏi họ có muốn ra ngoài đi dạo không cũng có thể khiến họ rơi vào trạng thái tê liệt ý chí do phân vân lưỡng lự. Nhiều bệnh nhân cho biết mặc dù họ nhận thức tốt vào khiếu nại mọi người đang đề cập nhưng không thể diễn đạt những điều đó bằng miệng.

Rối loạn do caffein

Caffein có thể gây ra sự lo lắng nghiêm trọng. Các nhà khoa học đã thừa tiếp nhân cà phê chính là nguyên do tăng nguy cơ của lo lắng, trầm cảm. Vì vậy, nếu như bạn là người dễ bị kích động, nên tránh sử dụng đồ uống có chứa caffein.

Hội chứng Boanthropy

Đây là một rối loạn hoang tưởng rất kỳ lạ. Theo lời kể của bệnh nhân mắc chứng Boanthropy, họ tin rằng mình là một con bò. Rối loạn này thường Tiến hành trong giấc mơ của họ, dần dần ảo giác này tràn ngập tâm trí. Họ có xu hướng hành động như một con bò, đó là thích đi bằng cả 2 tay, 2 chân và gặm cỏ.

Hội chứng cắn và nhai không kiểm soát

Hội chứng này ít được biết đến, nó là hình thức rối loạn kiểm soát xung động. Người bệnh mắc hội chứng này thường ban đầu cắn móng tay mình liên hồi  nhưng sau đó, nghiêm trọng hơn là rối loạn dẫn tới cắn và nhai cả ngón tay. 

Hội chứng cánh tay lạ

Đây là 1 rối loạn thần kinh khiến cho tay của người bệnh dường như tồn tại một cách độc lập với cơ thể. Đôi khi người bệnh không ý thức được bàn tay đang làm gì cho đến khi nó thực sự thu hút sự chú ý. Bàn tay tự do hoạt động, rối loạn này khiến người bệnh rơi vào trạng thái đau đớn bất ngờ.

Hội chứng rối loạn hành vi

Hội chứng này diễn ra phổ biến ở Nhật, đặc biệt đối với những người lớn lên theo khuôn khổ kỷ luật hà khắc và sự kỳ vọng tuyệt đối của cha mẹ. Người bệnh bị rối loạn do nỗi sợ hãi làm tê liệt ý chí và hành động của họ đi ngược lại tiếp nhân thức của họ vào sự vật, sự việc.

Rối loạn Erotomania

Đây là một rối loạn khá kỳ lạ, vào cơ bản, hội chứng này được hiểu: người bệnh tự hoang tưởng về việc bản thân họ đang có mối quan hệ yêu đương với người khác. Nhưng điều làm cho rối loạn này đặc biệt tại chỗ bệnh nhân thường nghĩ mình là người có địa vị cao, người nổi tiếng đang có quan hệ tình cảm với người bình thường. Ảo tưởng rất khó bị phá vỡ, nó thậm chí còn khiến bệnh nhân hành động cực đoan để bảo vệ suy nghĩ của mình và kiểm soát, thậm chí sát hại đối tượng mình yêu để giữ cho riêng mình.

Hội chứng rối loạn di truyền học

Hội chứng riley hay còn gọi là hội chứng rối loạn di truyền học ảnh hưởng tới hệ thống thần kinh trung ương. Bệnh nhân thường phải đối mặt với những cơn buồn nôn, khó khăn khi nhai, nuốt. Ở nhiều trường hợp, người bệnh vô cảm với đau đớn. Điều này rất nghiêm trọng lúc bệnh nhân bị thương hay đau nhức trong cơ thể nhưng hệ thống thần kinh trung ương lại không ghi nhận tín hiệu này dẫn đến các vết thương trở thành hoại tử thì bệnh nhân mới được đưa tới bác sĩ. Các nhà khoa học xác định, một trong những nguyên nhân mắc hội chứng này do di truyền.         

(Theo LSV, 6/2013)

Minh Huệ


Phát hiện tế bào collagen gây bệnh thận mãn tính

Các nhà khoa học Nhật Bản đã phát hiện một tế bào collagen trong thận có thể gây bệnh thận mãn tính.

Ngoài các trường hợp nhiễm trùng đường tiểu cấp tính và viêm thận cấp tính, đa phần các bệnh lý vào thận đều được gọi chung là bệnh thận mãn tính. Bệnh thận mãn tính không được sớm điều trị sẽ trở nên suy thận mãn tính. Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Tohoku Nhật Bản nhận thấy, bệnh cao huyết áp hoặc tiểu đường khiến chức năng thận suy yếu, trong thận khi đó sẽ có hiện tượng một loại tế bào collagen khiến thận giảm chức năng sản xuất erythropoietin – chất kích thích tạo hồng cầu trong máu. Việc thiếu chất kích thích tạo hồng cầu sẽ khiến cơ thể mắc bệnh thiếu máu, một vòng tuần hoàn máu kém dồi dào sẽ quay ngược vào “nuôi” thận vì thế mà thận “chết” dần.Tế bào collagen gây bệnh thận chính là tế bào erythropoietin do bị viêm mà chuyển hóa thành. Nếu khống chế được tình trạng viêm nhiễm, tế bào collagen hại thận sẽ hồi phục trở lại là tế bào erythropoietin bình thường.

Theo ANTĐ/ Tân hoa xã

Tăng cường hàng thủ

Trong suốt 1 kiếp người, hệ miễn dịch của cơ thể chúng ta làm một công việc tử tế, đó là giúp cho cơ thể chúng ta luôn luôn khỏe mạnh. Thế nhưng, đối lúc cũng “lực bất tòng tâm”. Hệ miễn dịch bị làm việc “quá tải” và phút chốc bỗng trở nên “nhu nhược” trước vô số các loại vi khuẩn, virút dập dìu bên ngoài lẫn bên trong cơ thể.

Nhiệm vụ đầy trọng trách

Hệ miễn dịch của cơ thể là một cơ chế tuyệt vời nhằm bảo vệ cơ thể trước sự rình rập, dòm ngó của các loại vi khuẩn, virút, ký sinh trùng, vi sinh vật, độc chất... Những phần tử cơ hội này chỉ chực chờ những khoảnh khắc cơ thể bị suy yếu để ra tay, chúng dễ dàng vượt qua hàng rào phòng ngự của cơ thể để rồi xâm luợc toàn bộ cơ thể chúng ta. Thế nhưng, lúc cơ thể khỏe mạnh, chúng ta chẳng phải biết rằng hệ miễn dịch của chúng ta phải làm việc cần mẫn như thế nào. Chỉ đến lúc “long thể bất an” thì chúng ta mới nhận ra vai trò của hàng phòng thủ. Để ý một chút, chúng ta sẽ thấy công trạng lớn lớn của hệ miễn dịch. Hãy tự hỏi sao vết thương của chúng ta mau lành? Tại sao chúng ta phải hắt hơi hoặc ho mỗi lúc hít phải những phần tử lạ? Tại sao chúng ta phải nôn mửa mỗi khi ăn phải những loại thức ăn bị nhiễm độc...

Tăng cường hàng thủ 1Các loại chất béo như omega-3 là bạn chí cốt của hệ miễn dịch
Nếu hệ miễn dịch của chúng ta làm việc 1 cách vô trách nhiệm thì cơ thể chúng ta phải tiếp nhân lấy một hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Hệ miễn dịch bảo đảm sự cân bằng nội môi cũng như “đại tu” những chỗ hư hỏng. Nếu hệ miễn dịch lười biếng thì chúng ta cũng sẽ bị bất an ngay dù chỉ uống 1 ly nước hoàn toàn tinh khiết. Chúng ta cần phải biết rằng hệ miễn dịch của chúng ta làm việc hiệu quả đến đâu, chúng ta có bạc đãi nó hay không?

Các tế bào trong hệ miễn dịch của chúng ta đảm tiếp nhân vô số công việc khác nhau. Nhóm thì làm “vệ sĩ”, nhóm thì làm “công nhân dọn rác”. Có nhóm lại làm lính gác thành và “tổng tư lệnh”. Nhóm khác lại đảm nhiệm chức năng như là một kho vũ khí.

Nói một cách đơn giản: cơ thể chúng ta được bảo vệ tại ba mức độ na ná như tiền vệ, trung vệ và hậu vệ. Hàng “tiền vệ” để bảo vệ cơ thể chính là lớp da bao bọc chung quanh để bảo vệ cơ thể chúng ta đồng thời tiết ra những chất liệu có tác dụng chống lại những vi sinh vật gây hại. Hàng tiền vệ cũng bao gồm dịch nhầy mũi, nước mắt có tác dụng chống đỡ những phần tử xâm nhập gia cư bất hợp pháp.

Nếu những vị khách không mời mà đến dùng mọi thủ đoạn để vượt qua hàng tiền vệ thì chúng sẽ gây kích ứng cơ thể. Lúc này, hàng trung vệ sẽ ra tay, chẳng hạn như: đáp trả bằng những phản ứng viêm. Cuối cùng, hàng hậu vệ sẽ tạo ra những đáp ứng miễn dịch, chống lại những phần tử xâm lăng chuyên biệt. Đây chính là vai trò của bạch huyết cầu.

Cấu tạo của hệ miễn dịch khá phức tạp. Hệ miễn dịch tác động lên tất cả các mô trong cơ thể để duy trì sự cân bằng trong các hoạt động của những mô này. Các tế bào của hệ miễn dịch hoạt động 1 cách không riêng lẻ. Chúng sẽ hòa về hệ tuần hoàn máu để “báo cáo” với não, hoặc chúng sẽ kích hoạt những sợi thần kinh sắp đó để báo hiệu cho não nên “tùy cơ ứng biến”. Não sẽ điều khiển hành vi của chúng ta, não sẽ đánh tráo mọi thứ, từ sự chuyển động của cơ thể, sự thèm ăn, khả năng “muốn”…

Những tế bào miễn dịch cũng sẽ kích hoạt vùng dưới đồi (hypothalamus). Đây là một khu vực vô cùng cần yếu của não bộ, vốn điều khiển những áp lực stress về thể chất lẫn tinh thần. Nếu cơ thể chúng ta hứng chịu stress 1 cách triền miên. Tuyến yên và tuyến thượng thận sẽ giải phóng thật nhiều cortisol. Những hoóc-môn cortisol này sẽ làm yếu cơ, tằng nhịp tim, gây mất ngủ, ngăn chận sự nâng cao trưởng mô…

Ăn để “phòng thủ”

Bữa ăn vô cùng cần yếu cho sức khỏe. Chế độ dinh dưỡng đóng 1 vai trò cấp thiết trong việc cân bằng những sự thay đổi “tiêu cực” xảy ra trong cơ thể do hậu quả của việc tiếp xúc với độc chất. Nếu không đáp ứng chính sách dinh dưỡng một cách phù hợp thì việc bị “thủng lưới” là một điều khó tránh khỏi. Ăn quá nhiều, hoặc ăn quá ít điều dẫn tới sự suy yếu cho hàng phòng thủ.

Những bữa ăn nhỏ liên tục chứa các loại protein, carbohydrates, những loại chất béo thiên nhiên sẽ giúp kích thích quy trình chuyển hóa, giúp hằng định nồng độ đường huyết, giúp duy trì năng lượng. Carbohydrates làm giảm những hoóc-môn được tiết ra những lúc có stress như cortisol, adrenaline, nhờ đó làm giảm bớt những sự viêm nhiễm. Các loại chất béo như omega-3 là bạn chí cốt của hệ miễn dịch.

Các loại vitamin như: A, C, E... cũng rất cần thiết trong việc củng cố chức năng của hệ miễn dịch do chúng tác động vào chức năng của hệ miễn dịch. Ngoài ra cũng phải kể tới vai trò của kẽm. Kẽm được tìm thấy trong mọi tế bào của cơ thể và đóng vai trò cần yếu trong những phản ứng enzyme. Một lượng kẽm thích hợp trong khẩu phần ăn sẽ vô cùng ích lợi cho “hàng bộ phận thủ”. Kẽm song song cũng ức chế sự tăng trưởng của 1 số virút vốn luôn sẵn sàng “ăn cắp trứng gà” trước hàng rào bộ phận thủ.

DS. NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG

(ĐH Murdoch- Úc)